Trang

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Văn hoá và… tha hóa

Giọt nước chảy lâu cũng làm thủng cối đá. Nhiều cái "bất mãn" nhỏ sẽ trở thành một cái "bất mãn" lớn. Nhiều sự tha hoá nhỏ sẽ trở thành một sự tha hoá lớn. Mà văn hoá thì nhất định không thể là tha hoá...
Một xã hội "đói" và "túng"
Tục ngữ có câu "Đói ăn vụng, túng làm càn". Một xã hội mà người ta ăn vụng ăn trộm với nhau bằng nhiều cách là một xã hội "đói". Một xã hội mà người ta làm liều bằng mọi cách bất chấp hậu quả là một xã hội "túng". Trong đời sống xã hội, nếu cái gì đó cứ nhân lên theo chiều hướng "đói" và "túng" thì sẽ ẩn chứa những bất ổn.
Và thật trớ trêu, khi cùng với chủ đề "ăn vụng", "làm càn", người Việt mình lại nói như "trách" với kẻ "ăn vụng" rằng, đồ... ăn vụng không biết đường chùi mép. Thế là không biết từ bao giờ, cái thói ăn vụng trở thành chuyện của "kỹ xảo", "tiểu xảo", với ngầm ý rằng, phàm ăn bất cứ thứ gì cũng phải biết chùi sạch mép, kẻ nào không biết làm điều đó là kẻ ngu.
Điều này cũng tương tự như quan niệm "xấu che tốt khoe". Vì vậy, cái xấu, thay vì được điều chỉnh cho tốt đẹp lên thì nó lại bị "che", "chùi" đi cho sạch dấu vết. Trong đời sống ứng xử, cái được dư luận xã hội nói và bàn nhiều, hẳn cái đó đang thuộc dạng "có vấn đề". Nhưng nói một cách khác, bóng bẩy- người ta lại cho là "lên ngôi". Gần đây rộ lên chủ đề về cái ác, sự vô cảm, gian dối...
Chính bởi tâm lý "che giấu" và hành vi chùi sạch dấu vết ấy mà văn hoá tự chịu trách nhiệm bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Khi không có văn hoá này thì không có luôn văn hoá xin lỗi, văn hoá từ chức.
Trong tương quan nhân quả (tốt - xấu), không có văn hoá từ chức thì thói vô trách nhiệm, thói lộng hành sẽ thắng thế. Ai cũng rõ, có những chuyện người dân phải thốt lên: "Sao ông ấy làm nhiều chuyện sai trái vậy mà không thấy ông ấy từ chức?".
Nhưng thực tế không những chẳng có sự xấu hổ xin từ chức nào mà những người dám nói thẳng, nói thật còn bị họ trù dập, trả đũa công khai. Thế là người ta lại ví "ếch chết tại miệng". Rồi từ những cái "chết" bất thường ấy mà không ít người mang trong mình một nỗi sợ hãi khi phải đối mặt với nạn tham nhũng, lạm quyền.
Một khi người ta không còn dám nói lên tiếng nói của mình mình, không nghĩ bằng cái đầu của mình, không nghe bằng đôi tai của mình, không đi bằng đôi chân của mình, thì dĩ nhiên thói nịnh bợ để tiến thân, thói cầu toàn, an phận sẽ xuất hiện.
Trước đây, người ta lấy mệnh Trời ra để đe nẹt con người, rằng phải biết sợ Trời. Trời là quyền lực tối cao. Trời sinh ra đế vương và cử họ xuống để trị dân. Nhà nước, chính quyền cũng là những đại diện của... Trời. Thần thánh trong thiên hạ cũng được các đế vương phong làm thần để ban ơn hay giáng họa cho con người. Nói chung, lúc nào cũng có sẵn một thứ quyền lực siêu hình sẵn sàng trừng phạt con người.
Đi chung với nỗi sợ hãi thường là những mâm lễ to nhỏ khác nhau mà người ta đội đến để cầu xin thánh thần. Không ít người nghĩ rằng ở đời hễ cứ đưa nhiều lễ thì việc sẽ mau thành, thế nên muốn thần thánh phù giúp thì cũng phải làm như vậy.
Nhằm che giấu những giới hạn về năng lực, về mặc cảm tội lỗi, hèn kém, người ta nghĩ rằng có thể nhờ cậy thần thánh xoá tội cho, bất kể trong cuộc sống họ làm giả, làm gian, lừa lọc để kiếm tiền như thế nào. Thần thánh là đấng bảo kê, chỉ cần tin là đủ.
Thay vì người dân ít phải sợ thần thánh và yên tâm đi ngủ mà không cần đóng cửa, thì nay, thần thánh hiện diện ở khắp mọi nơi, nhưng người dân vẫn phải mua đủ thứ khoá, tìm đủ mọi cách để chống trộm.
Tương quan với nạn trộm cắp ấy, tiếc thay, nạn tham nhũng vẫn là chuyện nổi cộm. Đáng nói những kẻ tham nhũng này lại đông và có "quyền lực" không khác gì thần thánh, thậm chí chúng còn tạo cho mình vỏ bọc "công đức" khi xây cả đền cho thần thánh ngự.
Khi con người không tự thiêng liêng mình thì thần thánh sẽ mất thiêng, bởi ông bà mình đã đúc kết "linh tại ngã, bất linh tại ngã".
Xấu che, tốt khoe?
Khi các giá trị bị "mất thiêng" thì văn hoá ứng xử trở nên thiếu kiềm chế. Điều này thấy rõ trong văn hoá giao thông.
Đèn hiệu và những quy tắc giao thông nhắc nhở người ta biết kiềm chế và tuân thủ luật pháp. Nhưng họ vẫn cứ tranh giành bất cứ khi nào có thể. Giành đường giống như giành quyền, thậm chí giành cả những quyền được ưu tiên của người khác (như xe cứu thương, cứu hỏa...).
Người phương Tây sang Việt Nam, họ không vượt đèn đỏ dù đường không có người qua lại, vì từ lâu trong đầu họ có một ý thức rằng đèn đỏ ấy đã bảo họ dừng lại, dừng lại không chỉ mang an toàn đến cho người khác mà còn giữ an toàn cho chính mình.
Hai cách ứng xử trong giao thông ấy chỉ ra con đường đi cho tương lai của một quốc gia. Nếu họ không biết dừng lại đúng lúc thì họ sẽ không thể vững vàng mà đi tiếp được.
Khi ta có đèn xanh để bước đi thì ta hãy tự hào mà bước đi, vì đó là sự tôn trọng của công lý, luật pháp dành cho ta. Không phải tranh giành hay bợ đỡ, lấy lòng ai để đi cả. Luật pháp phải cho người dân biết họ được làm gì và không được làm gì. Muốn thế luật pháp ấy phải công bằng, và những người thực thi nó phải công khai, minh bạch.
Minh bạch thì sòng phòng trong xây dựng "thương hiệu", không phải đánh bóng tên tuổi bằng cái "mặt tiền ảo". Đáng tiếc, cái "văn hoá mặt tiền" của người Việt đang chệch hướng bởi chính quan niệm "xấu che, tốt khoe".
Không ít ngôi nhà có vẻ ngoài hào nhoáng, nhưng bên trong thì nhếch nhác, thiếu tiện nghi và nhà vệ sinh thì khá ô uế. Cứ nhìn vào nhà vệ sinh của những trường đại học, nơi xuất xưởng những trí thức tương lai của dân tộc thì sẽ rõ.
Họ sợ bẩn đến mức không dám cùng nhau giữ gìn vệ sinh chung đã đành, mà còn làm bẩn thêm để tra tấn chính nỗi sợ bẩn của mình. Câu ví "cha chung không ai khóc" phản ánh thói tư lợi, ít nghĩ đến việc chung của người Việt mình.
Không chỉ có thế, người viết từng chứng kiến một phụ nữ ăn mặc sang trọng đến dự lễ tốt nghiệp của bạn bè (hay người thân gì đó). Khi mua hoa để tặng, cô ta dùng chân đá hờ vào bó hoa và hất hàm hỏi "bó này giá bao nhiêu?"...
Ngay cả ở cái chỗ cần sự trân trọng và lòng thành với cái đẹp cũng chỉ đáng để người ta "đá chân" cho xong thủ tục, thì chả trách gì những vụ cướp hoa, giẫm đạp lên hoa cứ thản nhiên diễn ra ở một số lễ hội tôn vinh cái đẹp.
Trong văn hoá, giữa cái được và cái mất, người Việt mình ít nhìn xa, mà chỉ nhìn vào những cái lợi trước mắt. Cứ nhìn vào một số di sản tinh thần thiêng liêng, gắn bó lâu đời với tâm hồn, tình cảm của người Việt như chùa Hương, Yên Tử, đền Trần sẽ thấy ngay.
Người ta đang thương mại và hiện đại hoá lễ hội một cách vô tội vạ, từ việc xây mới các công trình xa lạ với thẩm mỹ người Việt, đến việc dựng cáp treo, bày biện hàng quán với đủ thứ thịt rừng, rượu bia để hút khách...
Có bài báo viết, "Việt Nam không phải là một chiến trường". Bài viết khá hay, nhưng sao lâu nay người ta vẫn cứ nhìn mình như đang ở tình trạng... chiến tranh?
Chiến tranh khiến người dân trở nên mất an toàn. Dư luận xã hội từng đau xót khi so sánh, đất nước không có chiến tranh mà mỗi năm hơn 10 ngàn người phải chết vì tại nạn giao thông.
Không nên nhầm lẫn giữa chiến tranh bảo vệ chủ quyền và thói bạo lực, vô cảm làm tổn hại nhiều nhân mạng. Nhưng một khi con người chỉ vì mục đích đạt "lợi nhuận" (GDP) cho mỗi nhiệm kỳ, mà quay lưng lại với lợi ích của dân, thì "chiến tranh", xung đột nào phải đã lùi xa.
Văn hóa và phản văn hóa gần nhau trong gang tấc
Nhìn một cách tương quan hơn sẽ thấy, chiến tranh đâu chỉ diễn ra giữa người với người mà còn giữa người và tự nhiên vạn vật. Cái thói quen ăn nhậu, được diễn giải như một thứ văn hoá "nam vô tửu như cờ vô phong", không chỉ ăn sâu trong luỹ tre làng, mà ngay cả ở những giới văn sĩ, trí thức.
Cứ hội họp là mặt đỏ phừng phừng với đủ mọi loại tranh cãi, lý luận... Gần như không chừa một loại thịt thú rừng, bò sát, côn trùng nào, cứ ăn được là sẽ lên bàn nhậu, kể cả con chó nuôi trong nhà, hứng lên cũng kiếm cớ vì nó... ngu, để lôi ra làm thịt.
Cái thói quen xẻ thịt thú rừng, xẻ thịt tự nhiên để "ăn nhậu" phổ biến như thế thì việc người với người dễ "oánh nhau", thậm chí sát hại nhau chỉ vì những cái cớ rất vớ vẩn, đôi khi cũng chỉ cách trong gang tấc.
Không chỉ có thế, với thù oán người mình không "cởi" mà thường "kết", thế nên ngay cả trẻ con cũng nói với nhau rằng "quân tử báo thù mười năm chưa muộn". Mới hay cái tâm lý báo thù ấy luôn sẵn sàng được nuôi dưỡng trong ý chí, đầu óc, để gặp dịp là xuống tay tàn độc với nhau.
Người Việt mình cũng ưa chụm đầu thù tạc, chuyện hơn kém hay dở của người miền này, miền kia và bắt đầu cho những "cuộc chiến" về ý thức sắc tộc, vùng miền, dòng họ... Đi với nó là sự tự tôn thái quá, thấy cái gì của mình cũng là hay của người khác là dở. Đó là chưa kể đến những cuộc đua chen xây mồ to mả đẹp, nhà thờ họ hùng vĩ... theo kiểu "con gà tức nhau tiếng gáy".
Ai cũng muốn phần hơn, tốt, phấn phát về mình nên nghĩ việc chọn đất chọn cát, biến những mảnh đất tốt đẹp để đặt xác chết, để lo việc phát tài, phát lộc, phát quan tới muôn đời (mà thực tế thì chưa từng xảy ra chuyện đó). Trong khi những nơi xanh tươi như rừng núi, sông hồ thì tha hồ khai thác đủ các loại sản vật để thu lợi. Và việc thu lợi bất chấp hậu quả ấy lại được "hợp thức hoá" bằng những từ như "mả phát", "trời cho ăn lộc"...
Có nhiều những chuyện cần phải chỉnh sửa ngay như: Ô nhiễm môi trường; nhà cửa, đường phố nhếch nhác bẩn thỉu; tiểu tiện giữa đường, ít quan tâm đến vệ sinh công cộng... Văn hoá và phản văn hoá gần nhau trong gang tấc.
Quán cơm vỉa hè là một nét văn hoá đặc thù, nhưng nếu bao nhiêu cái bát bẩn cũng cứ rửa chung một chậu, thức ăn để gần cống rãnh, khách ngồi ăn vứt rác, vứt xương, vứt vỏ ốc... đầy dưới chân mình, thì nhất đinh nó không còn là văn hoá nữa mà là sự ô uế, bẩn thỉu.
Thói quen ăn nhậu bất kể giờ giấc cũng tạo thêm sự bất lương cho những loại thực phẩm kém chất lượng tràn lan. Bởi khi những con ma men không còn có đủ ngũ quan tinh tường để nhận ra đâu là thịt thối đâu là thức ăn, thì bọn vô lương sẽ lợi dụng để tuồn hàng "độc".
Khi độc hại được tẩm vào bất cứ loại thực phẩm nào, thì sự giả dối, lừa lọc lên ngôi. Đúng với câu nói "bệnh tự miệng mà vào". Tuy nhiên, có điều người ta phải mất tiền, mất công, mất sức, mất thời gian để đưa những thứ độc hại ấy vào cơ thể, chỉ vì không nhận ra được lòng người đã độc đến mức không còn thuốc tẩy độc.
Trong thời đại công nghệ thông tin, không thể không nhắc đến cái văn hoá cả tin. Đọc gì, nghe gì cũng có thể cho ra một thứ "cả tin" khó giải thích. Lâu ngày tạo ra một loại "văn hoá tin đồn". Tiếc thay, thói cả tin ấy cũng có sự "cổ vũ" của báo chí, với những loại tin tức không chính xác, những loại tin tức chỉ phục vụ cho những chuyện ở dưới cái đầu...
Giọt nước chảy lâu cũng làm thủng cối đá. Nhiều cái "bất mãn" nhỏ sẽ trở thành một cái "bất mãn" lớn. Nhiều sự tha hoá nhỏ sẽ trở thành một sự tha hoá lớn. Mà văn hoá thì nhất định không thể là tha hoá...
Thái Nam Thắng
(Theo TVN)

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Khi quốc hương lan tỏa

Ai gọi mùa xuân là mùa của sức sống cũng đúng, ai bảo mùa xuân là mùa vạn vật cùng khoe cũng chẳng sai. Ai có sắc thì khoe sắc, ai có hương thì khoe hương, ai có cả hương và sắc thì khoe hương sắc. Xã hội cần cả cái đẹp lẫn cái thơm.

"Muôn tía nghìn hồng đua rực rỡ

Hoa xuân dường ấy nở vì ai?".

Vua Trần Thánh Tông đặt câu hỏi kia cho hoa hay cho người? Có lẽ cho cả hai, bởi chỉ khi biết rõ sự xuất hiện của mình tương quan với ai, thì cái "muôn tía nghìn hồng" kia mới không nở suông, mới không nở một cách hỗn độn.

Xã hội cần cả cái đẹp lẫn cái thơm

Người Việt mình nhìn hoa nở bảo rằng nó "khoe hương sắc". "Nở" là "khoe". Ai gọi mùa xuân là mùa của sức sống cũng đúng, ai bảo mùa xuân là mùa vạn vật cùng khoe cũng chẳng sai. Ai có sắc thì khoe sắc, ai có hương thì khoe hương, ai có cả hương và sắc thì khoe hương sắc. Xã hội cần cả cái đẹp lẫn cái thơm, nên đừng e ngại khi khoe.

Khoe là một nhu cầu chính đáng, nhưng hiểu được giá trị thực của mình thì không khoe suông, khoe một cách sống sượng, khoe ảo, khoe cái mình không có. Khoe mà có thể nâng cấp cái chân, cái thiện, cái mỹ lên thì đó cũng là cách để tôn vinh giá trị. Biết mình "nở vì ai" thì sẽ biết lựa chọn hoàn cảnh, thời điểm để khoe.

Đất nước càng phát triển, giàu có, thì người ta càng có nhiều điều kiện để "khoe" hơn. Đây là một sự thực. Nhưng xu hướng khoe một cách phô trương cũng chỉ ra không ít bất cập trong lối sống xã hội, làm lẫn lộn giữa tinh hoa và những cái tầm thường.

Dẫn đến cái đáng khoe không đầu tư để khoe, cái chẳng đáng phải khoe thì lại cứ làm cho cả xã hội phải ầm ĩ bàn tán. Rồi có người chịu không nổi, trở nên dị ứng với "khoe", bèn gia nhập vào "chủ nghĩa chống khoe", tẩy chay hình thức.

Chẳng phải lúc giàu có mới khoe, khi đất nước bị lâm nguy, dân tộc bị coi thường, Nguyễn Trãi nói một cách hiên ngang (như khoe) với quân giặc, rằng đất nước tôi tuy có lúc mạnh yếu khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có. Muốn khoe cũng phải có giá trị thực để khoe. Khoe suông thì chỉ hạ thấp mình.

Một đất nước có văn hiến, lễ nghĩa, từng cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên xưng đế một phương, thì đất nước ấy không vô chủ. Vua Quang Trung đại phá quân Thanh vào đúng những ngày vạn vật khoe hương sắc (mồng 5 Tết) cũng để khẳng định một đất nước "có chủ".

Đọc lại "Tuyên ngôn Độc lập" đầu tiên của dân tộc, ở câu đầu tiên, Lý Thường Kiệt nói: "Nam quốc sơn hà nam đế cư" (Sông núi nước Nam vua Nam ở). Có vua nước Nam thì có dân nước Nam. Đồng lòng phụ tử. Thánh phàm, sang hèn đồng cư. Ai cư trên đất ấy thì phải bảo vệ đất ấy, không thể ăn cây táo mà rào cây xoan. Người ấy, đất ấy hoà vào làm một. Vua với dân hoà vào nhau như nước với sữa. Và chỉ khi cùng chung hưởng thái bình người ta mới hiểu được vị mặn của mồ hôi, nước mắt đổ ra trên đất ấy nó như thế nào. Giữ gìn sự độc lập tự chủ phải như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

"Gẫm đâu người ấy, báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm".

Vô duyên thì của vua là của vua, của dân là của dân. Mỗi người toan tính một đường. Niềm tin trong xã hội giảm sút. Người chỉ biết nghĩ lợi cho riêng mình gia tăng. Nhưng nước Nam không chỉ dành riêng cho vua Nam ở. Vua phải có đức cai trị, biết chăm dạy dân, không phải làm vua để ngồi trên đầu trên cổ dân. Nước Nam để cho cả vua và dân Nam cùng ở. Cùng ở thì cùng làm chủ vinh nhục, động tĩnh, vui buồn, thiện ác... cùng ngồi trên một con thuyền, cùng hưởng cùng chịu.

Chưa biết cùng ở thì đứng núi nọ trông núi kia, thì ngó ra bên ngoài, thì chê bùn, chê nước. Rõ ràng, khi nào người ta không biết đến sự tương quan, tương duyên với nhau thì khi ấy mạnh ai nấy sống. Hoa chẳng biết vì ai mà nở. Người chẳng biết cách để thưởng hoa.

Cùng thử ngẫm xem, ông Cao Bá Quát bảo rằng cả đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai. Khí tiết của người quân tử yêu cái đẹp hơn cả quyền lực là như thế. Người yêu cái đẹp đến thế thì sẽ không bao giờ thoả hiệp với cái ác. Hoa mai nở vì có người biết yêu mai như Cao Bá Quát, thật chẳng còn từ dùng nào khác hơn từ "tri âm tri kỷ". Hoa và người cùng tôn vinh vẻ đẹp của nhau.

Quốc hoa sẽ thêm nhiều ý nghĩa khi quốc hương lan tỏa

Nhưng thật ngược đời, nay người ta bỏ ra hàng chục, hàng trăm triệu đồng để "chơi" mai, chơi cho sành điệu, cho ra đẳng cấp của người giàu. Để làm gì? Để nhìn mai mà đoán ra người lắm tiền nhiều của. Để đoán già đoán non về người giàu, chứ đâu phải nhìn vào khí tiết. Hoa mai khi xưa mà Cao Bá Quát yêu quý nay cũng nhanh chóng trở thành một loài hoa thương mại.

Trong lúc mai thật, mai giả chen nhau khoe sắc, cúi đầu "chay" trước hoa mai mà tôn vinh khí tiết của người quân tử, thì e sẽ có người bảo rằng tâm thần mình có vấn đề. Còn chuyện này nữa, người ta đi "tết" sếp bằng hoa mai, sau khi mai tàn thì cho người đến mua lại với giá cao hơn nhiều giá trị thực, để hết tết rồi mà sếp vẫn có "tết". Mai là cái đẹp. Sếp là quyền lực. Chẳng biết từ bao giờ cái đẹp lại biết "thân mật" với quyền lực.

Có sao đâu nếu nó chính danh và lương thiện. Nhưng chỉ e, ông Cao Bá Quát nếu còn sống ắt cũng phải tiếp tục yêu mai trong niềm cô đơn, bởi thời nào cũng vậy, cúi đầu trước quyền lực có lợi hơn rất nhiều cúi đầu trước hoa mai. Đành vậy:

"Đã cam chịu bạc với tình
Chúa xuân để tội một mình cho hoa".

Quan hệ với thiên nhiên của con người ít còn trong sáng, không chỉ bởi con người làm giàu ngày càng bất chấp việc tàn phá thiên nhiên, mà ngay cả những cái đẹp của tự nhiên, họ cũng tìm cách biến nó thành món hàng trao đổi cho chức vụ, cho dự án...

Vẫn câu hỏi cũ "hoa nở vì ai?", để xem mọi người khoe với nhau những gì trong những ngày đầu năm mới. Tin vui đến, nước mình sắp có Quốc hoa. Có thể Quốc hoa sẽ là hoa Sen. Hoa Sen đáp ứng được nhiều tiêu chí, đủ cả hương lẫn sắc và có nhiều tầng lớp ý nghĩa. Cái có ý nghĩa nhất là Quốc hoa xuất hiện vào thời điểm chúng ta đang phải thừa nhận sự tồn tại của... quốc nạn tham nhũng. Ai cũng biết, tôn vinh cái đẹp thì phải giảm cái xấu, cái ác đi, đó mới là cách tôn vinh đàng hoàng nhất.

Hoa vẫn hàng ngày vì ai đó mà nở. Thế nên đối tượng "ai" ấy cần phải xử sự như những con ong hút mật hoa mà không làm tổn hại đến hương sắc của hoa. Người xưa bảo: "Nhất nhân tác phúc thiên nhân hưởng. Độc thụ khai hoa vạn thụ hương" (Một người làm phúc thì nghìn người được hưởng, một cây nở hoa thì hàng vạn cây được thơm lây).

Một năm mới đã đến, mọi người cứ làm phúc đi, cứ tự nhiên khoe hương sắc đi, mặt trời sẽ lấp lánh trên từng cánh hoa, gió sẽ đến và đưa hương đi khắp bốn phương. Ông vua cũng thế, người lao động cũng vậy, ngại gì làm hoa, ngại gì tỏa hương. Cùng nhau tỏa hương thì nơi đâu chẳng có hương, và Quốc hoa sẽ thêm nhiều ý nghĩa khi quốc hương lan tỏa.

Thái Nam Thắng

(Theo TVN)

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

Mạn bàn về chữ “Phúc”

Trong quan niệm cổ truyền của gia đình người Việt, chữ “Phúc” có vị trí quan trọng hàng đầu. "Nhà có phúc" là ước vọng, là niềm vinh dự của người Việt Nam. Vì lẽ đó, cứ Tết đến xuân về, người ta thường viết chữ “phúc” trên một tờ giấy đỏ vuông dán ngoài cửa và xem như là một lá bùa chúc tụng điều may mắn trong năm. Uớc vọng đầu năm của hầu hết người dân Việt không thể thiếu chữ "Phúc".

Cụ Nguyễn Công Trứ có đôi câu đối vừa hóm hỉnh nhưng không kém phần tinh tế và sâu sắc của hương vị ngày xuân: Chiều ba mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng "Bần" ra cửa/ Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông "Phúc" vào nhà. Lại nữa, có một câu chuyện trong dân gian kể rằng: đời vua Gia Long, có người lập nhiều công trạng, nhà vua hỏi muốn được thưởng gì thì người ấy thưa rằng: "Hạ thần chỉ xin được một chữ "Phúc" mà thôi". Vua cười đáp rằng: "Tiền bạc, chức tước thì ta có thể ban, chứ Phúc thì chỉ có trời ban mà thôi, cả dòng họ ta chỉ nhờ có chữ Phúc mà vinh hiển nhiều đời". Thật vậy, dòng họ nhà Nguyễn đã lót chữ Phúc vào tên của mình (vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh). Trên khắp nước Việt Nam, nhiều địa danh đã chọn chữ "Phúc": tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Phúc Thọ (Hà Nội)...

Chữ "Phúc" là từ Hán Việt, người miền Nam đọc là "phước". Chữ "Phúc" trong giáp cốt văn là hình tượng hai bàn tay bưng hũ rượu đứng trước bàn thờ. Như vậy, chữ "Phúc" vốn được xem là điều tốt lành do cầu cúng mà có được. Theo đó, "Phúc" có nghĩa là "thuận lợi", "đồng thuận". Thuận có nghĩa là từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài đều thông suốt, không có gì trở ngại. Trên thuận trời đất, dưới thuận vua tôi, dưới nữa thuận cha mẹ, con cái. Đời sống tinh thần bên trong và đời sống vật chất bên ngoài đều thuận lợi không có gì trắc trở, như vậy gọi là thuận, là Phúc.

Một điều thật thú vị là câu chúc Tết của người phương Tây thường đề cập đến hạnh Phúc, sức khỏe và thành đạt, đứng ở góc độ nào đó có sự tương đồng như Phúc, Lộc, Thọ mà ở phương Đông người ta tâm niệm. Cả Âu lẫn Á đều đặt "Phúc" lên vị trí hàng đầu, nhưng nếu tìm hiểu kỹ thêm một chút mới thấy chữ "Phúc" của phương Đông rất rộng lớn, mênh mông và tinh tế. Người Trung Hoa chơi chữ bằng cách vẽ hai con dơi đâu cánh lại, ngụ ý là trùng phúc, họ còn vẽ thêm một lúc năm con dơi biểu tượng cho ngũ phúc (ngũ phúc lâm môn) mà sách Hồng Phạm viết: "Ngũ phúc, nhất viết Thọ, nhị viết Phú, tam viết Khang minh, tứ viết Du hảo đức, ngũ viết Khảo chung mệnh" (Năm phúc: sống thọ, giàu có, bình an, đức tốt, chết vào tuổi già).

Theo Từ điển Khai Trí Tiến Đức thì "Phúc" là điều hay, điều tốt, do việc làm nhân đức mà ra. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên trong tâm thức của người Việt, từ lâu đã quan niệm phúc bao giờ cũng đi đôi với đức. Thuật ngữ "Phúc đức" luôn gắn liền nhau. Chính điều này đã làm sâu sắc thêm triết lý nhân duyên của nhà Phật và đem lại màu sắc tích cực cho hai chữ họa phúc (Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai). Phúc dày hay mỏng cũng do chính con người can dự quyết định. Chữ Phúc chính là một ân huệ mà con người tự tạo ra qua những hành động tốt của mình. Nó là những hạt giống tốt được tay người tự gieo trên những mảnh đất mà ta thường gọi là phúc điền (ruộng phước).

Do quan niệm họa phúc ở đời là sợi dây gieo nhân gặt quả, nên người Việt Nam chú trọng đến việc "làm ơn, làm phước". Hơn thế nữa, mỗi hành động, việc làm của chúng ta không những ảnh hưởng đến bản thân ta mà còn lưu lại kết quả cho thế hệ sau. Nhà có phúc là nhà có được cuộc sống bình yên thanh thản, đặc biệt là có hậu vận tốt. Muốn được đức phải có phúc và ngược lại đức sẽ đem lại phúc, đó là quy luật. Nội dung của đức phụ thuộc điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa, tôn giáo,... Ví như đức của Nho giáo là ngũ thường, đức của Phật giáo là ngũ giới (năm điều cấm), đức của Kitô giáo là 10 điều răn của Chúa... Dù văn chương chữ nghĩa có khác nhau, nhưng chung quy về đức ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại đều có chung quan niệm nhằm mưu cầu lợi ích cho mọi người.

Ngày nay, khi kinh tế có chiều khởi sắc, dường như người ta ít đặt, hay lãng quên chữ "Phúc" trong mối quan hệ với "đức" hay "thiện" (phúc đức, phúc thiện) mà thường đặt "Phúc" trong mối quan hệ với chữ "đạt" (thành đạt) hay "lợi" (phúc đạt, phúc lợi). Ngạn ngữ Lào có câu: "Hạnh phúc là kết quả của những hành vi đạo đức". Hi vọng rằng dù lịch sử có thay đổi như thế nào đi nữa thì quan niệm về chữ "Phúc" của dân tộc, của mỗi gia đình, của mỗi người chúng ta sẽ mãi mãi là "mã di truyền" tốt đẹp trong đời sống văn hóa người Việt.

Nguyễn Hiếu Tín

(Theo TVN)